Thứ Tư, 6 tháng 11, 2019

Bụng cấp - nhiễm trùng đư��ng tiết niệu hay viêm ruột thừa ở trẻ?

Nhiễm trùng đau ruột thừa trục đường tiết niệu (UTI) là một trong những bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất ở con nhỏ và chủ yếu can dự tới nhiễm trùng do vi khuẩn. Đây là một tình trạng y tế nên được nghi ngờ của bất kỳ đứa trẻ sốt nào mà ko với tín hiệu nhiễm trùng khác, chóng vánh được công nhận và điều trị thành công. Viêm ruột thừa là 1 trong những hiện trạng nhiều nhất cần giải phẫu bụng nguy cấp ở trẻ thơ. Ấn phẩm trình bày cả 2 điều kiện nêu trên và các nhân tố nguy cơ tương ứng, triệu chứng lâm sàng và cách chẩn đoán. Nghiên cứu tình triệu chứng đau ruột thừa huống thể hiện thận của cô gái, mà tới Sở Thận, Thận Ghép và nâng cao áp huyết CMHI có những triệu chứng cấp tính bụng.

VIÊM RUỘT THỪA
Viêm ruột thừa là duyên do phổ biến nhất của giải phẫu khẩn cấp ở con nít và được ước tính xảy ra ở 1-2% trẻ vị thành niên Báo cáo với bác sĩ với triệu chứng đau bụng cấp tính [1]. Nó phổ quát hơn ở trẻ em nam và trắng và trong thập kỷ thứ 2 của cuộc đời. Thủng xảy ra thường xuyên nhất ở trẻ em dưới 10 tuổi, rất với thể là do những triệu chứng ko tiêu biểu kéo dài thời kì nhu yếu để chẩn đoán [2-4]. Ở trẻ lọt lòng, viêm ruột thừa hi hữu lúc do hình dáng giống như phễu của đau ruột thừa bên nào nó, ở độ tuổi muộn hơn sẽ chuyển thành cấu trúc hình ống, dễ bị tắc nghẽn và viêm hơn.
TRIỆU CHỨNG
Diễn biến kinh điển của bệnh mang can dự tới sự xuất hiện của các triệu chứng như: đau bụng dữ dội ngăn chặn chuyển động, buồn nôn, nôn, thiếu thèm ăn, nâng cao nhiệt độ cơ thể, đau sức ép ở bụng dưới bên phải và giảm nhu động. Đau xuất hiện vòng quanh rốn và thường di chuyểndấu hiệu đau ruột thừa trong vòng 24 giờ tới góc phần tư bụng dưới bên phải. Trong rà soát thể chất, các triệu chứng bảo vệ cơ và những triệu chứng phúc mạc dương tính được Nhìn vào, tức là triệu chứng Blumberg dương tính (đau dữ dội khi giảm chèn lấn khoang bụng), triệu chứng Rowsing dương tính (đau ở góc dưới bên phải của bụng trong khi nén bên trái) và triệu chứng Jaworski dương tính (đau khi giạng mông phải bằng cách thức nâng và hạ chi dưới bên phải) [4-6].
Ở trẻ em dưới 10 tuổi đương nhiên sở hữu thể là không tiêu biểu, những triệu chứng đặc biệt (đau dữ dội đi lại tới bụng dưới bên phải, đau bụng dưới bên phải, nôn mửa, sốt, triệu chứng dương tính của Blumberg) với thể vắng mặt. Trẻ càng nhỏ, những triệu chứng càng ít đặc trưng.
biểu thị đau ruột thừa Ở trẻ lọt lòng, viêm ruột thừa là rất thảng hoặc (50 trường hợp đã được trình bày trong 30 năm qua), nhưng được đặc thù bởi tỷ lệ tử vong cao, ước tính khoảng 28% [7]. Những triệu chứng tăng rất nhanh, bao gồm mở rộng chu vi bụng, nôn mửa, giảm lượng thức ăn, ko ổn định nhiệt độ cơ thể, thay đổi da, sốc nhiễm trùng và máu tươi cũng mang thể xuất hiện trong phân [8].
Ở con nít dưới 5 tuổi viêm ruột thừa là tương đối hãn hữu, nhưng tỷ lệ thủng và viêm phúc mạc cao. Những triệu chứng thường được nói bao gồm đau bụng lan tỏa, đau phần đông khoang bụng, phòng thủ cơ, sốt, nôn mửa và đi tả [6, 9]. Sự bảo kê cơ bắp và sự đau đớn phân tán trên tất cả khoang bụng tương quan với sự xuất hiện của thủng ruột thừa và nguy cơ xuất hiện của nó nâng cao theo thời gian của những triệu chứng trước khi chẩn đoán.hiện tượng đau ruột thừa Người ta ước lượng rằng khoảng 44-68% con trẻ trong độ tuổi này Con số sở hữu bác sĩ sở hữu triệu chứng viêm ruột thừa cấp tính mang chẩn đoán kém và được gửi về nhà [9]. Nó đã được chứng minh rằng tỷ lệ thủng thủng giảm dần theo tuổi và ứng dụng cho đa số trẻ thơ 1 tuổi và khoảng 69% con nhỏ 5 tuổi [10].
XÉT NGHIỆM HÌNH ẢNH VÀ XÉT NGHIỆM
ruột thừa đau bên nào Trong công thức máu, tăng bạch cầu và nâng cao số lượng bạch cầu trung tính trên 75% được Nhìn vào rộng rãi nhất, ngoài ra, ở trẻ nhỏ, các thất thường trong xét nghiệm trong phòng thí điểm có thể ko xảy ra. Trong số những xét nghiệm phụ trợ sắp đúng chẩn đoán là siêu âm, X-quang và chụp cắt lớp vi tính bụng.
CÂN đánh giá NGUY CƠ VIÊM RUỘT THỪA
mang những quyết tâm trong tài liệu để đánh giá nguy cơ viêm ruột thừa bằng cách sử dụng sơ đồ tính điểm dựa trên tuổi, giới tính, triệu chứng lâm sàng, kết quả xét nghiệm,vị trí đau ruột thừa để rút ngắn quá trình chẩn đoán và dừng những can thiệp ko cần thiết. Trong số Đó sở hữu Thang đo Alvarado [11], Điểm viêm ruột thừa ở con nít (PAS) [12] được biểu lộ trong Bảng 1
và Máy tính rủi ro viêm ruột thừa ở con nhỏ (PARC). ) [13]. Những thang đo này là 1 dụng cụ sắp đúng cho những bác sĩ tiến hành chẩn đoán theo hướng này. Thang đo pARC đòi hỏi nghiên cứu sâu hơn và thuần tuý hóa sơ đồ, không những thế, kết quả so sánh sơ bộ rất hứa [14].

trình bày của đau ruột thừa Tab 1. Thang viêm ruột thừa ở con trẻ (PAS) cho trẻ em trong khoảng 3-18 tuổiSự đau của góc phần tư bụng dưới bên phải lúc ho hoặc run
2
chán ăn
một
Nhiệt độ cơ thể> 38 ° C
1
Buồn nôn / nôn
một
Đau ở bên phải xương chậu
2
nâng cao bạch cầu
một
tăng bạch huyết cầu trung
một
chuyển di đau đến góc phần tư phía dưới bên phải của bụng
một
Điểm:
<5 nguy cơ viêm ruột thừa
cấp tính 5 viêm ruột thừa cấp với thể
> 5 nguy cơ viêm ruột thừa cấp

VIÊM RUỘT THỪA CẤP VÀ NHIỄM TRÙNG đau ruột thừa đau bên nào
Cả 2 điều kiện này với thể cộng tồn tại. Không những thế, viêm ruột thừa là một yếu tố nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu. Vi khuẩn lớn mạnh trong ruột thừa sở hữu thể đi qua không gian sau phúc mạc vào tuyến phố tiết niệu và gây nhiễm trùng các con phố tiết niệu, với hoặc ko mang triệu chứng điển hình cho tình trạng này [15].
Nhiễm trùng con đường tiết niệu (UTI) được định nghĩa là sự hiện diện của vi khuẩn niệu trong 1 hiệu giá đáng nhắc ở một bệnh nhân mắc bệnh tiểu niệu hoặc ở 1 bệnh nhân không bị viêm niệu nhưng sở hữu các triệu chứng hiện tại của nhiễm trùng tuyến phố tiết niệu [16]. Đây là 1 vấn đề phổ quát và quan yếu trong dân số nhi khoa, với thể dẫn đến sẹo thận, lớn mạnh nâng cao áp huyết và bệnh thận giai đoạn cuối. Nhiễm trùng niệu mang thể tác động đến con đường tiết niệu trên (viêm bể thận cấp tính, viêm ống thận truyền nhiễm cấp tính) hoặc đường tiết niệu dưới (viêm bàng quang). Nhiễm trùng các con phố tiết niệu xảy ra ở khoảng 0,7 bóng5,9% trẻ con Thống kê mang bác sĩ gia đình [17] và 5-14% dau ruot thua con nít Thống kê tới phòng cấp cứu [18]. Người ta ước lượng rằng trong số những trẻ sốt, UTI được chẩn đoán ở 3-8% trường hợp, trong khi ở những bé gái bị sốt mà không có những đặc điểm khác của nhiễm trùng, khả năng nhiễm trùng tiểu sẽ tăng lên 16 những nhân tố nguy cơ của nhiễm trùng tiểu bao gồm tuổi <3 tháng tuổi, giới tính nam ở trẻ lọt lòng và giới tính nữ ở trẻ lớn, chủng tộc da trắng, thiếu bao quy đầu, khuyết tật tuyến phố tiết niệu bẩm sinh, trào ngược bao tử, tiền sử gia đình dương tính thận và khuyết tật tuyến đường tiết niệu, hội chứng bài tiết, rối loàn bọng đái chức năng, đặt ống thông và hoạt động tình dục [22 cạn26].
Nhiễm trùng tuyến đường tiết niệu sở hữu thể xảy ra sở hữu những triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của bệnh nhân. Trẻ càng nhỏ, những triệu chứng đi kèm càng ít đặc biệt. Ở trẻ nhỏ nhất (<2 tuổi), sốt ko sở hữu tín hiệu nhiễm trùng khác với thể là triệu chứng độc nhất của nhiễm trùng tiểu. Chẩn đoán nhiễm trùng tiểu thường được xác nhận rộng rãi hơn nếu nhiệt độ thân thể cao hơn 39 ° C và sốt kéo dài hơn 24 giờ [26 sắt28].
Trong số các triệu chứng khác của UTI ở trẻ <2 tuổi. Vàng da kéo dài, khó chịu, rối loạn lớn mạnh, rối loàn ăn uống và nôn mửa được kể [29, 30]. Trẻ to hơn liệt kê những triệu chứng như sốt, khó tiểu, đau bụng, đau lưng, tiểu cầu, tiểu gấp, tiểu ko tự chủ, tiểu máu và nôn [29, 31]. Ở đau ruột thừa là đau bên nào thanh thiếu niên, người ta cũng nên chú ý đến những triệu chứng biến chứng (sẹo của mô thận) của UTI không được nhận biết, tái phát, tức là nâng cao áp huyết, rối loàn tăng trưởng và những triệu chứng của bệnh thận quá trình cuối [32].
Ở con nít từ hai đến 5 tuổi, những triệu chứng rộng rãi nhất của UTI là sốt và đau bụng [33]. Các triệu chứng này sở hữu thể đi kèm với nôn mửa và chán ăn, mang thể cho hình ảnh của 1 bụng ruột thừa bên nào cấp tính và gợi ý nghi ngờ viêm ruột thừa cấp tính.
SỰ THỪA NHẬN
Chẩn đoán dựa trên lắng đọng nước đái và xét nghiệm nước đái vi sinh. Một xét nghiệm gạn lọc cho một đứa trẻ nghi ngờ mắc UTI có thể là những xét nghiệm dải phát hiện sự hiện diện của bạch huyết cầu esterase và nitrat trong nước giải. Đây là những xét nghiệm thấp và nhanh sở hữu độ nhạy và độ đặc hiệu cao [34].
đánh giá NGUY CƠ Ở trẻ con VỀ NHIỄM TRÙNG tuyến đường TIẾT NIỆU
Để thẩm định nguy cơ nhiễm trùng tiểu ở trẻ sốt hai tháng -căn nguyên đau ruột thừa hai tuổi, sở hữu thể bằng máy tính rủi ro UUM - UTICalc [35], có sẵn tại trang web: "// líc.pitt.edu". Máy tính giám định nguy cơ nhiễm trùng tiểu dựa trên các triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm bổ sung. 1 Tỉ dụ về việc bằng máy tính được hiển thị trong Hình. 1.

[Image: 5bfbcd0b8641b067967857.png]Hình. Một. UTICalc - một bảng tỉ dụ để đánh giá nguy cơ nhiễm trùng tiểu ở trẻ sốt cao hai tuổi23 tháng

nguyên cớ KHÁC CỦA ĐAU BỤNG CẤP TÍNH Ở con nít
1 số bệnh ở trẻ thơ xảy ra với đau bụng cấp tính. Trong số chậm triển khai, chúng tôi đề cập, tỉ dụ, những bệnh lý xảy ra trong khoang bụng (viêm ruột thừa, viêm ruột, viêm phúc mạc, viêm gan cấp, viêm túi mật, viêm tụy cấp), đau ruột thừa ở bên nào rối loàn niệu sinh dục (UTI, sỏi tiết niệu , xoắn dịch hoàn, bệnh viêm vùng chậu), rối loạn hô hấp và tuần hoàn (viêm cơ tim, tràn khí màng phổi), những bệnh về huyết học (thiếu máu hồng cầu hình liềm, HUS), những vấn đề về chuyển hóa (nhiễm toan chuyển hóa)
và nhiễm độc thuốc. Bảng hai cho thấy những nguyên nhân nhiều nhất của đau bụng cấp tính ở các đội ngũ tuổi khác nhau.

Tab hai. Khởi thủy gây đau bụng cấp tính ở những nhóm tuổi khác nhau [36]Trẻ sơ sinh và trẻ lọt lòng
Trẻ mầm non
học sinh
Đau bụng
Nhiễm trùng đường tiêu hóa
Viêm ruột thừa cấp tính
Nhiễm trùng đường tiêu hóa
Viêm ruột thừa cấp tính
Nhiễm trùng đường tiêu hóa
táo bón
táo bón
táo bón
Bệnh Hirschsprung
Ketoacidosis
Đau bụng kinh
Thoát vị bẫy
Nhiễm trùng các con phố tiết niệu
Bệnh viêm vùng chậu
hút chất dinh dưỡng vào thân thể
vết thương
Thai ngoài tử cung
Vòng xoắn ruột
Viêm phổi
Xoắn tinh hoàn / vòi trứng
Nhiễm trùng tuyến đường tiết niệu
Ban xuất huyết Schoenlein-Henoch
Viêm túi mật

PHÂN BIỆT VIÊM RUỘT THỪA VÀ ruột thừa nằm bên nào
Trong phân biệt, chúng tôi tính tới tuổi của đứa trẻ Báo cáo bị đau bụng cấp tính. Ở trẻ dưới hai tuổi. Nguy cơ viêm ruột thừa cấp tính phải chăng và nâng cao theo tuổi. Điều trái lại cũng đúng có UTI - trẻ càng nhỏ, nguy cơ nhiễm trùng con đường tiết niệu càng lớn. Bảng 3 so sánh các đặc điểm lâm sàng và kết quả của những xét nghiệm phụ trợ trong UTI và viêm ruột thừa.

Tab. 3. So sánh những triệu chứng và những bất thường trên thăm khám lâm sàng và nghiên cứu phụ trợ trong viêm ruột thừa cấp tính và nhiễm trùng các con phố niệu
Viêm ruột thừa cấp tính
Nhiễm trùng các con phố tiết niệu
Đau dạ dày
sắp rốn / góc dưới bên phải
Đau bụng bên / đau siêu âm
di cư của nỗi đau
Trong vòng <24 giờ, đến góc phần tư bụng dưới bên phải
-
Nhiệt độ> 38 ° C
+
+
Chán ăn, buồn nôn, nôn
+
+/-
Triệu chứng phúc mạc
+/-
-
nâng cao bạch huyết cầu
+ nâng cao bạch cầu trung không những thế, 1 "sự đổi thay trái"
+
Xét nghiệm nước đái tổng quát
đúng
lmổ ruột thừa eucocyturia
1 kết quả tích cực của que thử (sự hiện diện của bạch cầu esterase hoặc nitrat)
-
+
bất thường trong kiểm tra siêu thanh
mở rộng đường kính ruột thừa> 6 mm / không nhạy cảm sở hữu phần phụ bên ngoài / vôi hóa bên trong ruột thừa / lưu lượng máu trong thành ruột thừa trong xét nghiệm hiệu ứng Doppler / làm dày thành manh tràng / dịch màng bụng tự do / áp xe [37, 38]
hình ảnh siêu thanh bụng mang thể bình thường / nâng cao kích thước của thận / sưng lớp nhu mô / mờ sự dị biệt vỏ não / hipoechogeniczność bột giấy / mở mang của BELLING-xương chậu / Pyonephrosis / áp xe của thận [39]
Cả 2 tình trạng có thể cùng tồn tại

CA LÂM SÀNG

Bé gái 13 tuổi bị khuyết thiếu trục đường tiết niệu phức tạp (nhân đôi cơ quan sinh sản bị teo cả âm đạo và cloaca dằng dai, co thắt bóng đái,viêm ruột chuyển động niệu quản sang ống tủy, di lệch qua thận phải và loàn sản nang thận trái). Bộ phận sinh dục và tuyến đường tiêu hóa dưới, sau khi cắt bỏ ống dẫn trứng và buồng trứng với 1 nang sô cô la ở bên trái và cắt bỏ cả 2 âm đạo đến đáy chậu, sau khi ghép thận vào 1 vòng lặp của Bricker, mang nhiễm trùng tuyến đường tiết niệu tái phát với triệu chứng bụng cấp tính, cô đã được đưa vào khoa thận. Và tăng áp huyết nguy cấp do đau bụng dữ dội, chán ăn, sốt 38,8 ° C và thiểu niệu.
khi nhập viện, cô gái ở trong hiện trạng nói chung nhàng nhàng, đau bụng dữ dội. Cô gái đã nhận thức và định hướng trong thời gian, địa điểm và cảnh huống. Cô đã không uống thức ăn trong 24 giờ, từ khước uống nước từ 16 giờ. Ở nhà, cô gái 1 lần nôn mửa và một lần bỏ phân nước. Nhiệt độ thân thể tăng lên 37,5 ° C đã được Quan sát trong rà soát thể chất. Niêm mạc mồm sạch sẽ, khô ráo, bụng giống như tấm ván, mềm chủ yếu ở bụng và xung quanh hố chậu trái. Những viêm ruột thừa cấp triệu chứng phúc mạc dương tính tăng theo thời gian (triệu chứng của Blumberg), nhu động rất biếng nhác và rất khó nghe. Huyết áp là 100 / 50-91 / 48. Trong phòng bệnh, cô gái đã nôn ra hàm lượng serous-green hai lần và cho phân ướt bốn lần,
Trong các nghiên cứu phụ trợ, các tham số viêm cao đã được Nhìn vào - tăng bạch huyết cầu 20.000 / μl, CRP 14 mg / dl (với định mức <0,5 mg / dl), procalcitonin 39 ng / ml (định mức <0,1 ng / ml). Phiến đồ bạch huyết cầu trung tính (18.000 / μl) đã được Quan sát trong hình thái học. Số mũ của chức năng thận đã tăng - creatinine tăng lên một,58 mg / dl trong khoảng 0,7 mg / dl (chỉ tiêu 0,06-1,00mg / dl) urê và axit uric tương ứng là 50 mg / dl (định mức 0-50 mg) / dl) và 6,1 mg / dl (định mức 2,4-5,7 mg / dl). Trong Tìm hiểu nước giải, người ta đã Nhìn vào thấy py niệu (25-30 bạch huyết cầu trong trường nhìn).
X-quang bụng đã được thực hành, biểu hiện trong hình. Hai. Trong chế độ xem cáp ...triệu chứng viêm ruột thừa

0 nhận xét:

Đăng nhận xét