Thứ Hai, 4 tháng 11, 2019

Vi khuẩn hp trong dạ dày là m���m bệnh hiểm nguy hay không đáng lo ngại?

virut hp sống trong dạ dày của con người, nơi nó mang thể tự duy trì trong suốt thế cục. Vi khuẩn này được sắm thấy ở khoảng 50% dân số thế giới và thành ra là nguyên do gây ra 1 trong các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn phổ thông nhất ở người. Gần như những người bị nhiễm H. Pylori chỉ bị viêm nhẹ thành bao tử và thường không gặp phải điều này. Nhưng đôi khi vi rut hp gây loét bao tử và thậm chí là ung thư dạ dày.

mặc dầu người ta đã nghĩ trong khoảng lâu rằng dạ dày sở hữu tính axit tới mức ko với vi sinh vật nào có thể tồn tại trong Đó, nhưng vi khuẩn đã được nhìn thấy trong dạ dày của con người vào cuối thế kỷ XIX. Nhưng chỉ đến năm 1982, các bác sĩ Úc Robin Warren và Barry Marshall mới thực sự phát triển vi khuẩn Helicobacter pylori từ các mảnh mô bao tử (sinh thiết dạ dày) của bệnh nhân lần trước nhất. Chỉ sau chậm tiến độ là bằng chứng nhận sự cho thấy vi khuẩn sở hữu thể còn đó và thậm chí phát triển trong bao tử. Để cho thấy hp dạ dày mầm bệnh, Barry Marshall đã nuốt một nền văn hóa H. Pylori . Sau Đó anh bị nhiễm trùng dạ dày, sau chậm triển khai anh đã chữa khỏi bằng cách thức tự điều trị bằng kháng sinh.
bây giờ rõ ràng H. Pylori không chỉ gây nhiễm trùng dạ dày, mà còn loét bao tử. Hơn nữa, sự hiện diện của nó làm nâng cao nguy cơ ung thư bao tử, mà vào năm 1994, tổ chức Y tế toàn cầu (WHO) đã tuyên bố H. Pylori gây ung thư cho con người.
1 số sự thật về vi khuẩn hp sở hữu lây không
H. Pylori là 1 dòng vi khuẩn hình xoắn ốc sống trong màng nhầy của dạ dày. Vi khuẩn này là điện thoại di động và sở hữu 6 đến 8 đuôi roi, hoặc cờ, mà nó với thể chuyển di ở một đầu của tế bào. Hầu như phần lớn các vi khuẩn, bao gồm H. Pylori, với thể được phân mẫu là Gram âm hoặc Gram dương. Thành tế bào của 2 nhóm vi khuẩn này với thành phần khác nhau, và sự dị biệt này có thể được chứng minh bằng cái gọi là nhuộm Gram. Sau khi nhuộm này, các vi khuẩn gram âm như ăn gì để diệt vi khuẩn hp mang thể được nhìn thấy dưới kính hiển vi là những tế bào màu hồng, trong khi vi khuẩn gram dương mang màu tím đậm. H. Pylori mang một phân tử DNA tròn to với chiều dài hơn 1,6 triệu nucleotide. Trên DNA này, vật liệu di truyền của vi khuẩn được ghi nhận trong khoảng 1600 gen. Trình tự DNA (thứ tự các nucleotide) của bộ gen H. Pylori này đã được biết đến từ năm 1997, và hiện mang sẵn trên internet trong khoảng hai chủng H. Pylori khác nhau. Những lớp lang DNA này là một nguồn thông báo quan yếu cho đa dạng nhà nghiên cứu.
H. Pylori khi không chỉ xảy ra trong bao tử của người và khỉ. nội soi bao tử sở hữu 1 số loài động vật, chả hạn như chuột, chuột lang, chuột dancing và lợn, có thể bị nhiễm H. Pylori một cách thức nhân tạo. Các con vật này được dùng như một mô phỏng động vật trong phòng thử nghiệm để dò la chính xác các gì xảy ra trong vật chủ trong thời kỳ truyền nhiễm.
1 trong các bệnh nhiễm trùng rộng rãi nhất ở người
nhàng nhàng, 1 nửa số người bị nhiễm H. Pylori. Điều này làm nó phát triển thành một trong những bệnh nhiễm khuẩn phổ biến nhất ở người. Ở thế giới phương tây, tỷ lệ người nhiễm bệnh tương đối thấp, khoảng 20%. Ngoài ra, ở những nước đang tăng trưởng, mang đến 90% người dân mang thể bị nhiễm bệnh. Sau sắp 20 năm nghiên cứu, người ta vẫn chưa biết xác thực khiến cho thế nào 1 bệnh nhiễm H. Pylori được truyền trong khoảng người này sang người khác. Được biết, một người nào chậm triển khai thường nhiễm bệnh khi còn nhỏ.
Hơn nữa, thời cơ mắc H. Pylori sẽ to hơn nếu như tình cảnh mà 1 ai chậm triển khai sống kém vệ sinh, chẳng hạn như ở các nước đang lớn mạnh. Nó cũng xuất hiện rằng trong các cảnh huống mọi người sống sắp nhau chỉ mất khoảng dài, chả hạn như trong 1 gia đình, doanh trại hoặc đơn vị, nhiễm trùng H. Pylori được truyền thường xuyên hơn. Bởi vậy, nội soi ruột già rất với thể H. Pylori được truyền qua tiếp xúc trực tiếp giữa người với người, tỉ dụ như qua lời kể, hoặc qua tiếp xúc có phân hoặc chất nôn của người bị nhiễm bệnh.
làm cho thế nào để H. Pylori tồn tại trong bao tử axit?
Trái ngược với ruột, ko mang vi khuẩn thường sống trong bao tử của con người, vì thuần tuý là nó quá axit ở chậm tiến độ. Độ pH có thể giảm xuống dưới 2, quá phải chăng cho đầy đủ những vi khuẩn để còn đó. Không những thế, H. Pylori mang thể sống sót trong các điều kiện axit này. Việc thiếu sự cạnh tranh từ những vi sinh vật khác về không gian và chất dinh dưỡng làm bao tử, dù rằng mang axit, 1 môi trường hoàn hảo cho H. Pylori. Điều này cũng được chứng minh từ thực tại là một lúc H. Pylori đã ổn định trong dạ dày, anh ta với thể ở Đó trong suốt thế cuộc.
H. Pylori sống trong 1 lớp nội soi bao tử bao nhiêu tiền chất nhầy, lớp chất nhầy, nằm trên các tế bào của thành bao tử (xem Hình 1). Lớp chất nhầy này được dự kiến, trong số các thứ khác, để bảo vệ thành dạ dày chống lại axit dạ dày: những tế bào thành dạ dày càng gần, độ pH trung tính trong lớp chất nhầy này càng trung tính. Thành ra, H. Pylori chính yếu nằm gần những tế bào thành dạ dày, nơi nó được bảo kê bởi lớp chất nhầy chống lại axit dạ dày.

AFB một H. Pylori sống trong màng nhầy của dạ dày, trong lớp chất nhầy nằm trên đỉnh những tế bào của thành bao tử. Độ pH đón chờ những tế bào này là khoảng 6, khi mà ở khoang bao tử, độ pH mang thể giảm xuống dưới hai. Nhấp vào hình ảnh để xem phiên bản to hơn
tuy nhiên, vi khuẩn phải với khả năng còn đó trong môi trường rất axit khi vào dạ dày trước khi nó tới lớp chất nhầy. Tuy nhiên, độ axit trong lớp chất nhầy thay đổi và vẫn mang thể khá phải chăng. Để bảo vệ chống lại axit dạ dày, H. Pylori có enzyme urease theo ý của nó, được sản xuất có số lượng lớn bởi vi khuẩn nội soi bao tử
Urease chuyển đổi chất urê với trong dạ dày thành các chất căn bản ammonia và bicarbonate (xem hình 2). Bằng phương pháp sản xuất 2 chất này, axit trong vùng phụ cận tức thì của vi khuẩn được trung hòa. Cái áo khoác trung hòa kiểm soát an ninh này cho phép H. Pylori còn đó ngay cả độ pH là 2. Các nhà nghiên cứu đã tắt mã hóa gen cho urease bằng bí quyết chỉnh sửa gen, từ chậm tiến độ tạo ra 1 đột biến H. Pylori ko còn có thể sản xuất urease. Trong các thử nghiệm tiếp theo, những đột biến này không còn với thể lây truyền vào bao tử của các mô phỏng động vật. Vì thế, urease vô cùng quan trọng đối mang H. Pylori, vì không mang enzyme này, vi khuẩn chẳng thể gây nhiễm trùng.

AFB hai Hoạt động của urease enzyme H. Pylori đảm bảo chuyển đổi urê thành amoniac và bicarbonate. Điều này vô hiệu hóa môi trường của vi khuẩn và cho nên bảo nội soi ruột già giá bao lăm vệ vi khuẩn chống lại axit bao tử bằng 1 cái áo khoác trung tính. bấm vào hình ảnh cho một phiên bản to hơn
khiến thế nào để loét bao tử phát triển?
Bất cứ người nào bị nhiễm H. Pylori sẽ bị viêm thành bao tử. Sự hiện diện của vi khuẩn trong bao tử lôi kéo các tế bào bạch huyết cầu của hệ thống miễn dịch khỏi cơ thể. Những tế bào này tích trữ trong thành dạ dày, nơi chúng cạnh tranh có vi khuẩn. Trong quá trình này, các chất hoặc chất trung gian gây viêm được tạo ra nhằm tiêu diệt vi khuẩn và cũng đảm bảo tính thấm của thành mạch trong thành bao tử tăng lên, bởi thế, thậm chí phổ biến tế bào bạch cầu với thể tới được vị trí nhiễm trùng. Giả dụ phổ quát những chất này được phân phối bởi các hành động của một giận dữ miễn nhiễm mạnh mẽ nó với thể xảy ra rằng lớp niêm mạc bao tử bị hư hỏng do viêm.
bức xúc của cơ thể này đối có nhiễm trùng được gọi là giận dữ viêm. Mục đích của bức xúc viêm này là để mẫu bỏ vi khuẩn, thường hoạt động có đa dạng bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn. Nhưng trong trường hợp nhiễm H. Pylori xảy ra thảng hoặc trong khi những vi khuẩn đương đầu thành công bởi hệ thống miễn dịch. H. Pylori giữ nguyên vị trí và điều này dẫn đến trạng thái viêm mãn tính (lâu dài) của thành dạ dày. Bởi vì nhiễm trùng thường là không nghiêm trọng và bao tử hầu như thường bị hư hỏng, phần đông mọi người chú ý gì cả.
bên cạnh đó, có một nhóm nhỏ các người đi đến thầy thuốc có những lời kêu ca về dạ dày. Hiện trạng viêm của các người này hình như đã thoát khỏi tầm tay do sự xuất hiện của phản ứng miễn nhiễm mạnh. Điều này cho phép niêm mạc dạ dày bị hư hỏng, thỉnh thoảng xấu tương tự mà loét được hình thành trong thành bao tử. Cho nên, giận dữ miễn dịch về nguyên tắc nhằm chống lại nhiễm trùng H. Pylori, vì vậy, chống lại cơ thể của chính họ và gây ra các triệu chứng của bệnh. Điều trị bằng sự phối hợp của đa dạng mẫu kháng sinh khác nhau, bao gồm metronidazole, clarithromycin, amoxicillin và / hoặc tetracycline cộng với một chất ức chế axit, trong đông đảo các trường hợp gây ra viêm bao tử và thường là loét dạ dày, biến mất.
từ nhiễm trùng bao tử tới ung thư bao tử
1 nhóm rất nhỏ người bị ung thư dạ dày do nhiễm H. Pylori. Không rõ xác thực sự hiện diện của H. Pylori trong dạ dày gây ung thư bao tử như thế nào. Với thể là H. Pylori tạo ra chất gây ung thư, và thành ra gây ung thư ngay thức thì. Như có thể được đọc trong đoạn sau về vai trò của các nguyên tố độc lực.
Thật kỳ lạ, không chỉ vi khuẩn là thủ phạm, mà hệ thống miễn nhiễm của chính vật chủ con người hình như cũng đóng 1 vai trò quan yếu trong sự phát triển của ung thư dạ dày. H. Pylori vô cùng có khả năng bỏ qua những cơ chế phòng vệ của chủ nhà. Trước nhất, anh ta sống sót nhờ axit trong bao tử lúc tới bao tử. Rào cản tiếp theo là màng nhầy trong chậm triển khai có những phân tử bảo vệ, chẳng hạn như kháng thể và, ví dụ, lactoferrin, một phân tử thu giữ sắt, một chất dinh dưỡng cần yếu cho vi khuẩn. Nhưng H. Pylori cũng có vẻ chống lại điều này. Lúc ở trong màng nhầy, H. Pylori gây viêm, nhưng những cố gắng của các tế bào bạch cầu để khiến cho sạch vi khuẩn là vô dụng. H
Do sự hiện diện liên tục của vi khuẩn, thành bao tử bị viêm kinh niên. Chừng độ nghiêm trọng của giận dữ viêm này khác nhau và phụ thuộc vào sự dị biệt tư nhân giữa những người về hình thức và sức mạnh của phản ứng miễn nhiễm. Viêm nặng sở hữu thể gây ra thiệt hại đáng kể cho niêm mạc dạ dày, sở hữu thể dẫn đến loét nức tiếng. Người ta cho rằng trạng thái viêm này cũng có thể gây ra các thay đổi di truyền trong DNA của những tế bào thành dạ dày. Kết quả là, các tế bào này rút cục biến thành tế bào ung thư sau 1 thời kỳ dài, dẫn tới ung thư bao tử.
Vai trò của H. Pylori: nhân tố độc lực
Ngoài hệ thống miễn nhiễm của con người, 1 số đặc điểm của vi khuẩn cũng ảnh hưởng tới chừng độ nghiêm trọng của các triệu chứng. Các tính chất tương tự cũng được gọi là các nguyên tố độc lực, bởi vì chúng xác định khả năng gây bệnh của vi khuẩn, hoặc độc lực của nó. Bởi vì vi khuẩn ko cần các yếu tố độc lực để còn đó, chúng cũng không xảy ra ở hồ hết các chủng vi trùng hp. Một tỉ dụ về nhân tố độc lực như vậy là loại gọi là đảo mầm bệnh cag. Đây là một hàng ngũ, hay 'đảo', gồm các gen mã hóa cho hệ thống chuyên chở protein. Điều này cho phép H. Pylori tiêm protein phê duyệt một mẫu cấu trúc kim trong khoảng tế bào của chính nó vào tế bào thành bao tử. Mặc dù chức năng chuẩn xác của những protein này chưa được biết đến, nhưng chúng sở hữu thể là những nguyên tố độc lực, có ảnh hưởng tới cấu trúc và chức năng của tế bào thành dạ dày. Rõ ràng là hệ thống cag có liên quan tới độc lực của H. Pylori, bởi vì những người mang H. Pylori dương tính thường bị nhiễm trùng bao tử hiểm nguy hơn và với nguy cơ loét bao tử và ung thư dạ dày cao hơn so mang người với H. Pylori âm tính .
một ví dụ thứ hai về yếu tố độc lực là cytotoxin hút bụi, VacA. VacA là một chất độc được chuyên chở ra bên ngoài bởi H. Pylori. Ở đây nó gây ra sự hình thành của những hốc nhỏ (bong bóng) trong những tế bào dạ dày xếp hàng, mà có nhẽ dòng chết của các tế bào này với hiệu lực thi hành. Mỗi pylori căng H. Khiến cho kiểu riêng của mình Vaca, nhưng cũng có H. Pylori chủng mà không phân phối Vaca. Trong 1 số nghiên cứu, các nhà nghiên cứu cho thấy những người mắc viêm dạ dày hp nên ăn gì sở hữu một mẫu VacA khăng khăng, ví dụ như mẫu s1, bị loét dạ dày thường xuyên hơn so sở hữu những người mắc H. Pylori sở hữu một loại khác hoặc ko với VacA. Tuy nhiên, sở hữu nghiên cứu cho thấy rằng không hề khi nào cũng liên kết đánh dấu xác chết giữa sự hiện diện của các nguyên tố độc lực và sự hình thành của loét và ung thư.
Ốm hay ko ốm: vấn đề cân bằng lúc sống chung
Rõ ràng, ko chỉ có một đặc điểm cụ thể của vi khuẩn chịu trách nhiệm cho sự phát triển của nhiễm trùng, loét và ung thư trong bao tử. Vai trò của hệ thống miễn dịch của vật chủ con người cũng ko quyết định. Mang 1 sự tương tác phức tạp giữa giận dữ miễn nhiễm của vật chủ và đặc tính của vi khuẩn. Sự tương tác này được cân bằng trong phần lớn các trường hợp, bởi vậy vật chủ của con người không nhận thấy sự lây truyền. Đây là một cảnh huống thuận tiện cho chủ nhà, những người không bị bệnh. Nhưng ngừng thi côngĐây cũng là lợi thế của H. Pylori để giữ cho vật chủ khỏe mạnh. Bởi vì giả dụ vật chủ chết do nhiễm trùng, thì vi khuẩn đã mất chỗ ở và thành ra cũng sẽ mất đi. Thí dụ, các gì có thể đóng 1 vai trò trong việc duy trì sự thăng bằng, và thành ra giữ cho vật chủ khỏe mạnh, là khả năng thích ứng của H. Pylori. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thành phần di truyền của vi khuẩn đổi thay rất chậm trong các năm bị nhiễm bệnh. Người ta cho rằng H. Pylori thích nghi 1 cách thức tối ưu những đặc tính của nó với những điều kiện trong vật chủ cụ thể của nó, để nó với thể sống rẻ hơn trong dạ dày. Xác thực những đặc tính của điều trị hp với liên quan đến hệ thống thích nghi thông minh này đang được nghiên cứu có sự viện trợ của tri thức về sức ép bộ gen của H. Pylori. Pylori theo bí quyết này tối ưu hóa những đặc tính của nó với những điều kiện trong vật chủ cụ thể của nó, để nó sở hữu thể sống rẻ hơn trong bao tử. Chính xác các đặc tính của vi khuẩn mang can hệ đến hệ thống thích ứng thông minh này đang được nghiên cứu với sự trợ giúp của tri thức về sức ép bộ gen của H. Pylori. Pylori theo cách thức này tối ưu hóa những đặc tính của nó sở hữu những điều kiện trong vật chủ cụ thể của nó, để nó với thể sống thấp hơn trong dạ dày. Chính xác các đặc tính của vi khuẩn mang liên quan tới hệ thống thích nghi thông minh này đang được nghiên cứu sở hữu sự trợ giúp của kiến thức về sức ép bộ gen của dương tính hp
bên cạnh đó, một số người có viêm loét bao tử và ung thư dạ dày, vì sự cân bằng giữa H. Pylori và những chủ nhà đang bị đảo lộn một cách thức nào ngừng thi côngĐây. Chuẩn xác thì điều này xảy ra như thế nào và tại sao điều này ko đúng sở hữu số đông mọi người, vẫn chưa rõ ràng. Bởi vậy, đây là 1 mục nóng trong nghiên cứu kỹ thuật về vi khuẩn Helicobacter pylori.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét